Dạy tiếng Việt trên vùng cao

Thứ Sáu, 28/07/2017, 23:11 [GMT+7]

Dạy tiếng Việt trên vùng cao

Trong hành trình giúp các em người dân tộc thiểu số (DTTS) nghe - hiểu tốt tiếng Việt và tự tin tới lớp, có tiếng cười của trẻ và những giọt mồ hôi của cô…


Cô trò cùng học


Giữa hè, Trường Mầm non Anh Đào (xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, Khánh Hòa) vẫn râm ran tiếng đọc bài của học trò lớp tăng cường tiếng Việt cho học sinh (HS) người DTTS. Trong lớp, cô Đinh Thị Mừng từ tốn sửa cách phát âm cho một trò nhỏ đọc còn ấp úng, ngọng nghịu. Cô Mừng cho biết, để tạo hứng thú học tập cho các em, cô lựa chọn những chủ đề gần gũi và dạy thông qua tranh ảnh, đồ vật, những câu chuyện kể, bài thơ bằng tiếng Việt. Chỉ vào bé Cà Lia (4 tuổi, người T’rin), cô Trần Thị Minh Nguyệt kể, hồi mới vào học, bé hầu như không nói và hiểu được tiếng Việt. Cô chỉ vào bức tranh con chó và yêu cầu bé phát âm từ “chó”,  bé chỉ biết nói “a sau”. Nhưng hiện nay, bé đã bắt nhịp gần bằng các bạn.

 

zzGiờ chơi của các bé ở Trường Mẫu giáo Ninh Tân - điểm trường Suối Sâu

Giờ chơi của các bé ở Trường Mẫu giáo Ninh Tân - điểm trường Suối Sâu


Để trẻ đến trường và thích học tiếng Việt, ở Trường Mầm non Anh Đào, các góc hoạt động, đồ chơi, đồ dùng, tranh ảnh, sản phẩm của trẻ đều được sắp xếp sinh động, dán nhãn tiếng Việt; ngoài trời cũng có các chữ viết, ký hiệu nơi góc vườn, sân chơi… Các cô còn giới thiệu nhiều trò chơi dân gian, bài hát đồng dao, ca dao để trẻ vừa vui chơi tập thể, vừa học tiếng Việt. Tại khuôn viên điểm trường chính của Trường Mầm non Ninh Tây (xã Ninh Tây, thị xã Ninh Hòa) còn có khu vực được đổ trụ bê tông nối tiếp nhau để các em vừa chơi trò đi thăng bằng, vừa học chữ cái tiếng Việt viết trên mỗi trụ. Cây cầu khỉ gần đó cũng được bố trí từng chữ số trên mỗi bước chân…


Ngày hè là lúc cha mẹ đưa con lên rẫy thường xuyên, nên việc huy động trẻ người DTTS đến trường học tăng cường tiếng Việt 2 buổi/ngày không dễ. 3 năm nay, cô Nguyễn Thị Nhung (27 tuổi) đều dậy từ sáng sớm để kịp đi từ nhà (xã Diên Sơn, huyện Diên Khánh) lên Trường Mẫu giáo Hoa Lan (xã Liên Sang, huyện Khánh Vĩnh) dạy học. Có khi, cô phải ở liền 2 - 3 ngày mới về. Cũng như nhiều cô giáo khác, cô Nhung còn “đi học” cùng trò, sẵn sàng đưa đón HS. “Có lần, đến nhà một HS trên triền dốc cao, cô vừa leo tới nơi đã mệt lử, vậy mà trò thấy cô đã chạy trốn, tìm được thì khóc lóc, nhất quyết không chịu đi. Vận động, năn nỉ vài ngày liền, trò mới chịu cho cô chở tới lớp. “Từ chỗ không quen với mùi nắng trên tóc của mấy bé người DTTS, tôi đâm “nghiện”, xa mấy bữa là nhớ”, cô Nhung chia sẻ.

 

Cô Nguyễn Thị Loan hướng dẫn học trò tập viết

Cô Nguyễn Thị Loan hướng dẫn học trò tập viết


Ngoài dạy chữ, các cô còn thường xuyên trò chuyện, mua quà, nhắc các em giúp đỡ cha mẹ, làm việc tốt, giữ gìn vệ sinh… Mối quan hệ giữa cô và trò vì thế ngày càng thân thiết. Nhiều em còn “dạy lại” cô tiếng mẹ đẻ của mình. Nhờ đó, qua 3 năm dạy trẻ người DTTS, cô Nhung đã tích lũy được chút vốn từ thông dụng của nhiều “ngoại ngữ” như: Raglai, Ê đê, T’rin… Bây giờ, lúc dạy tiếng Việt, cô còn có thể dịch sang tiếng mẹ đẻ của các em, không cần nhờ “thông dịch viên” trong lớp.


Dạy trẻ DTTS nhiều vất vả, nhưng với các cô giáo, đó còn là hạnh phúc mang cái chữ đến với các em. Với hơn 30 năm dạy HS miền núi, trong đó 15 năm dạy tại điểm trường Suối Sâu, cô Nguyễn Thị Loan (Trường Tiểu học Ninh Tân, xã Ninh Tân, thị xã Ninh Hòa) biết rất rõ hoàn cảnh từng nhà. Cô từng mang gạo và vận động mọi người hỗ trợ gạo cho một HS nghèo mồ côi cha mẹ. Mở giỏ xách đựng mấy gói kẹo bánh, cô vui vẻ nói: “Tôi luôn chuẩn bị sẵn những món quà nhỏ để động viên trẻ. Ai nói đúng tiếng Việt, cô thưởng, ai chưa nói đúng, cô cũng thưởng nhưng ít hơn”. Nhìn nét chữ run run mà Cao Thị Ý (6 tuổi, người Raglai) viết trên bảng, có thể thấy được phần nào công sức, tâm huyết mà cô Loan dành cho HS.

 

Còn cô Trần Thị Ngọc Phượng (Trường Mầm non Ninh Tây, xã Ninh Tây, thị xã Ninh Hòa), hàng ngày gửi lại con nhỏ 9 tháng tuổi cho bà nội chăm để đi dạy, chia sẻ: “Có người từng khuyên tôi chuyển nghề. Nhưng nghĩ đến niềm vui của các em khi đọc đúng, được cô khen, nghĩ đến sự gắn bó cô trò thân thiết như con với mẹ, tôi lại không nỡ rời xa. Tháng đầu tiên nghỉ hè, tôi nhớ trường quay quắt, đêm ngủ còn mơ thấy tiếng HS đọc bài. Có lần, trò biết cô bị bệnh phải về sớm bèn chạy theo nắm tay, phụng phịu nói: “Mai cô lại đi dạy, cô đừng nghỉ nhé…”.

 

Cô và trò Trường Mẫu giáo Hoa Lan trong giờ tập đọc

Cô và trò Trường Mẫu giáo Hoa Lan trong giờ tập đọc

 

Quan tâm tăng cường tiếng Việt

 

Đối với các lớp học tăng cường tiếng Việt, cán bộ quản lý chuyên môn (mỗi phòng GD-ĐT 1 người) và cán bộ quản lý cấp trường (mỗi trường 1 người) được hỗ trợ 40% mức lương cơ sở; giáo viên trực tiếp đứng lớp được bồi dưỡng bằng 150% mức lương cơ sở (22 ngày/tháng) và hỗ trợ 300.000 đồng xăng xe/tháng (2 tháng hè).

Việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ người DTTS đã được ngành Giáo dục tỉnh quan tâm, triển khai nhiều giải pháp trong những năm qua, thông qua việc tổ chức cho trẻ học 2 buổi/ngày và bán trú tại trường; chỉ đạo các trường tăng thời lượng dạy tiếng Việt từ 350 lên 500 tiết cho HS người DTTS lớp 1; ưu tiên hỗ trợ đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học cho các huyện miền núi. Các phòng giáo dục và đào tạo (GD-ĐT) huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh còn tổ chức bồi dưỡng tiếng Raglai cho cán bộ quản lý và giáo viên mầm non. Với những nỗ lực đó, chất lượng dạy và học tiếng Việt ở các huyện miền núi đã từng bước chuyển biến. Ông Trần Văn Trung - Phó Trưởng phòng GD-ĐT huyện Khánh Vĩnh cho biết: “Năm học 2017 - 2018, huyện có 16/17 trường mầm non và 15/16 trường tiểu học tổ chức tăng cường tiếng Việt cho trẻ. Qua hơn 1 tháng hè triển khai, khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt của nhiều trẻ đã tiến bộ”.


Tuy vậy, theo lãnh đạo Sở GD-ĐT, một trong những khó khăn của công tác này là hiện nay có tới 293/376 giáo viên mầm non dạy trẻ DTTS của tỉnh là người dân tộc Kinh, chiếm 78%. Còn lại 83 giáo viên người DTTS, hầu hết có trình độ đào tạo đạt chuẩn, nhưng do hình thức đào tạo không chính quy nên khả năng tiếp nhận những đổi mới của bậc học gặp khó khăn. Bên cạnh đó, ở gia đình, trẻ chủ yếu giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ; cha mẹ các em, do nhận thức và điều kiện sống còn hạn chế nên sử dụng tiếng Việt không nhiều, cũng chưa quan tâm dạy con nói tiếng Việt. Việc huy động trẻ ra lớp còn khó khăn do phong tục, tập quán của người dân…

 

 Hè 2017, toàn tỉnh có 33 trường mầm non với 101 lớp ở các địa phương: Khánh Sơn, Khánh Vĩnh, Cam Lâm, Cam Ranh và Ninh Hòa tổ chức tăng cường tiếng Việt cho trẻ. Đến nay, đã có hơn 2.100/3.700 trẻ từ 3 đến 5 tuổi ra lớp, đạt hơn 56%. Bên cạnh đó, 37 trường tiểu học tiếp tục thực hiện chương trình tăng cường tiếng Việt cho hơn 1.500 trẻ DTTS chuẩn bị vào lớp 1.

Ông Hà Văn Thông - Trưởng phòng Giáo dục Tiểu học, Sở GD-ĐT cho biết, cùng với chương trình tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp 1 đã thực hiện nhiều năm, năm 2017 là năm đầu tiên thực hiện đề án của Chính phủ về tăng cường tiếng Việt cho trẻ em DTTS ở bậc mầm non. Nội dung học hiện nay do Sở GD-ĐT biên soạn, trong khi chờ chương trình của Bộ GD-ĐT. Việc dạy tăng cường tiếng Việt trong dịp hè để HS không quên tiếng Việt, tự tin hơn khi bước vào năm học mới. Thời gian tới, ngành Giáo dục tỉnh sẽ tăng cường đầu tư xây dựng, sửa chữa, nâng cấp cơ sở vật chất, cung cấp trang thiết bị đảm bảo đủ chỗ học cho 35% trẻ DTTS độ tuổi nhà trẻ (12 - 36 tháng) và ít nhất 90% trẻ DTTS độ tuổi mẫu giáo (3 - 5 tuổi). Đồng thời, nghiên cứu tăng mức hỗ trợ về tiền ăn trưa cho trẻ DTTS 3 - 5 tuổi; hỗ trợ ăn trưa cho trẻ độ tuổi nhà trẻ và sữa cho trẻ theo Đề án Sữa học đường giai đoạn 2016 - 2020...


“Ngoài ra, sở cũng xem xét xây nhà công vụ hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà ở cho giáo viên; tăng cường cộng tác viên hỗ trợ ngôn ngữ trong trường cho các lớp có nhiều trẻ em người DTTS ở độ tuổi nhỏ nhất trong giai đoạn mới đến trường; đồng thời bồi dưỡng tiếng DTTS cho cán bộ quản lý, giáo viên giảng dạy”, ông Thông cho biết thêm.


HOA NGÂN




 

.

các thông tin tiện ích

31442