Trốn đóng bảo hiểm cho người lao động có thể bị xử lý hình sự

Thứ Hai, 31/07/2017, 23:18 [GMT+7]

Trốn đóng bảo hiểm cho người lao động có thể bị xử lý hình sự

Hỏi: Theo Báo Khánh Hòa phản ánh, tính đến ngày 30-6, tổng nợ bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm y tế (BHYT), lãi  chậm đóng lên gần 207 tỷ đồng. Toàn tỉnh có 1.108 đơn vị nợ bảo hiểm từ 1 tháng trở lên với số tiền hơn 107 tỷ đồng, trong đó 347 đơn vị nợ từ 6 tháng trở lên với số tiền hơn 75 tỷ đồng. Xin hỏi pháp luật hình sự có quy định xử lý hành vi trốn đóng bảo hiểm cho người lao động?


Lê Quang H. (phường Vĩnh Hòa, TP. Nha Trang)


Trả lời: Bộ luật Hình sự năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2018) đã bổ sung nhiều tội danh mới, trong đó có “Tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động” (Điều 216). Theo đó, người nào có nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định từ 6 tháng trở lên thuộc một trong những trường hợp sau đây, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 50 đến 200 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm:


a) Trốn đóng bảo hiểm từ 50 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng;


b) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người đến dưới 50 người lao động.


Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 200 đến 500 triệu đồng hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:


a) Phạm tội 2 lần trở lên;


b) Trốn đóng bảo hiểm từ 300 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng;


c) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 50 người đến dưới 200 người;


d) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 1 điều này.


Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500 đến 1 tỷ đồng hoặc bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:


a) Trốn đóng bảo hiểm 1 tỷ đồng trở lên;


b) Trốn đóng bảo hiểm cho 200 người trở lên;


c) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 2 điều này.


4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20 đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 đến 5 năm.


Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại điều này thì bị phạt như sau:


a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 điều này thì bị phạt tiền từ 200 đến 500 triệu đồng;


b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 điều này thì bị phạt tiền từ 500 đến 1 tỷ đồng;


c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 điều này thì bị phạt tiền từ 1 đến 3 tỷ đồng.


Luật sư Nguyễn Hồng Hà

 

.

các thông tin tiện ích