Bộ luật Hình sự năm 2015:

Các thời điểm áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội

16/02/2017, 19:54 [GMT+7]
Ngày 27-11-2015, Quốc hội khóa XIII thông qua Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (BLHS năm 2015). Bộ luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-7-2016. Tuy nhiên, tại Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29-6-2016, Quốc hội đã quyết định lùi hiệu lực thi hành của BLHS năm 2015 kể từ ngày 1-7-2016 đến ngày luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành.
 
Được biết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV sẽ cho ý kiến về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015 ở hai phiên họp thứ 7 và thứ 8. (Dự kiến phiên họp thứ 7 được tổ chức từ ngày 20 đến 21-2-2017; Phiên họp thứ 8 được tổ chức từ ngày 13 đến 24-3-2017).
 
Trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu về thời điểm áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội của BLHS năm 2015. 
 
8 trường hợp áp dụng từ ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 được công bố 
 
BLHS năm 2015 tuy bị lùi hiệu lực thi hành, nhưng theo quy định tại khoản 3 Điều 7 BLHS  năm 2015 và Điều 2 Nghị quyết 109 của Quốc hội thì một số quy định có lợi cho người phạm tội theo BLHS năm 2015  được áp dụng kể từ ngày BLHS năm 2015 được công bố (ngày 9-12-2015). Theo đó, có 8 trường hợp được áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội kể từ ngày ngày 9-12-2015, trong đó có 6 trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27-11-2015 của Quốc hội, đó là:
 
1) Không áp dụng hình phạt tử hình khi xét xử người phạm tội mà BLHS năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình, đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử;
 
2) Hình phạt tử hình đã tuyên đối với người được nêu tại điểm a khoản này nhưng chưa thi hành án, thì không thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân;
 
3) Đối với người đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà có đủ các điều kiện quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của BLHS năm 2015, thì không thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân;
 
4) Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà BLHS  năm 1999 quy định là tội phạm nhưng BLHS năm 2015 không quy định là tội phạm, bao gồm: tảo hôn; báo cáo sai trong quản lý kinh tế; vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính. Nếu vụ án đã được khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án, thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án, thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;
 
5) Không xử lý về hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm không được quy định tại khoản 2 Điều 12 và các điểm b, c khoản 2 Điều 14 của BLHS năm 2015; nếu vụ án đã được khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trong trường hợp người đó đã bị kết án và đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án, thì họ được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; nếu người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án, thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;
 
6) Những người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại theo quy định tại điểm d và điểm đ khoản này, thì đương nhiên được xóa án tích.
 
Và 2 trường hợp hướng dẫn tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 01/2016/NQ-HĐTP ngày 30-6-2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội kể từ ngày 9-12-2015, đó là: 
 
1) Người thực hiện hành vi mà theo quy định của BLHS năm 1999 là tội phạm nhưng theo quy định của BLHS năm 2015 thì hành vi đó chưa cấu thành tội phạm do có bổ sung, thay đổi các yếu tố định tội và cấu thành tội phạm đó (nhưng không thuộc trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109);
 
 2) Người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội trừ các tội quy định tại khoản 2 Điều 14 BLHS năm 2015.
 
Theo các quy định của BLHS năm 2015 và các hướng dẫn của Nghị quyết Quốc hội, Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao chỉ có 8 trường hợp như đã nêu trên được áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội kể từ ngày 9-12-2015; 
 
Kể từ ngày 1-7-2016: Hàng loạt quy định có lợi được áp dụng cho người phạm tội
 
Cạnh đó, hàng loạt quy định có lợi cho người phạm tội theo khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015, điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 và Danh mục (195 danh mục) kèm theo Công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13- 9- 2016 của Tòa án nhân dân Tối cao áp dụng kể từ ngày 1-7-2016 (Chẳng hạn về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với “Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự. (Khoản 3 Điều 29); không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng. (Khoản 3 Điều 38 BLHS năm 2015)…
 
Luật sư Nguyễn Hồng Hà
 
 
 
 
 
 
;