Kỳ 2: “Ăn” cả rừng trồng
Để tránh tình trạng bán keo non, gây thiệt hại về mặt kinh tế, huyện Khánh Sơn đã phối hợp với 3 doanh nghiệp thu mua keo trực tiếp cho người dân. Kế hoạch này được UBND huyện hướng dẫn triển khai khá tỉ mỉ, chi tiết. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, do sự buông lỏng của chính quyền địa phương, cơ quan chức năng đã dẫn đến tình trạng mua bán, vận chuyển keo non… thường xuyên xảy ra.
![]() |
| Lượng keo non ở xã Sơn Hiệp đã được các đầu nậu thu mua với giá từ 3 - 5 triệu đồng/ha. |
Kế hoạch đúng, thực hiện sai
Nằm trong chương trình phát triển kinh tế vườn rừng, vườn nhà, huyện Khánh Sơn đã phát triển trên 3.000 ha keo trên địa bàn. Hiện nay, hầu hết 8 xã, thị trấn của huyện đều có một số lớn diện tích rừng keo thuộc Chương trình 132, 743 được trồng trong năm 2002 - 2003 đã đến kỳ thu hoạch. Để tránh tình trạng bán keo non, gây thiệt hại về mặt kinh tế, huyện Khánh Sơn đã phối hợp với 3 doanh nghiệp (DN), gồm: Công ty TNHH Cát Phú, Công ty Tân Hưng Long, DN tư nhân Phương Đài để thu mua keo trực tiếp cho người dân. Căn cứ theo kế hoạch số 167/KH-UBND ngày 14-5-2009 của UBND huyện Khánh Sơn, trình tự, thủ tục khai thác, nghiệm thu, vận chuyển gỗ rừng trồng 132 và 743 được hướng dẫn triển khai khá tỉ mỉ và chi tiết. Theo đó, các hộ gia đình muốn bán keo phải làm đơn xin phép khai thác, có chứng nhận của thôn, xã; sau đó Phòng Nông nghiệp huyện mới tiến hành nghiệm thu và cấp phép khai thác. Số keo các DN mua được tính theo thành phẩm Ster gỗ thực tế mà người dân thu hoạch trực tiếp. Với cách làm này, sau khi trừ chi phí khai thác, công vận chuyển, mỗi héc-ta keo của người dân được bán với giá gần 23 triệu đồng. Ngoài ra, các DN còn cam kết hỗ trợ một phần cây giống và tiền công chăm sóc để người dân tái tạo rừng. Có thể khẳng định, về mặt lý thuyết, Kế hoạch 167 của UBND huyện Khánh Sơn được thực hiện khá nghiêm túc theo tinh thần chỉ đạo của Chỉ thị số 31/CT-UBND ngày 11-11-2008 của UBND tỉnh về việc tăng cường quản lý đất đai; trâu, bò; vườn rừng do Nhà nước đầu tư đối với đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, sự buông lỏng của chính quyền địa phương, cơ quan chức năng đã dẫn đến tình trạng mua bán, vận chuyển keo non… thường xuyên xảy ra.
![]() |
| Đối với bọn lâm tặc, cây gỗ bằng cả người ôm còn khai thác được thì cây keo chỉ là chuyện nhỏ. |
Nhà nước và nhân dân đều thiệt
Theo báo cáo của UBND huyện Khánh Sơn, trong năm 2009, toàn huyện đã cấp phép khai thác gỗ rừng trồng cho 3 công ty khai thác với tổng diện tích 109,05 ha/183 hộ, chiếm 36,60% tổng diện tích rừng trồng thuộc Chương trình 132, 743 (trồng năm 2003). Đến thời điểm này, các công ty đã khai thác 60,7 ha, chiếm 55,66% diện tích được cấp phép khai thác. Tuy nhiên, số diện tích keo thuộc chương trình còn lại là 63,40% (khoảng trên 200 ha) thì hầu hết các xã, thị trấn báo cáo không còn, thậm chí một số xã có diện tích keo được trồng trong năm 2004 - 2005 đã được khai thác “lụi” gần hết.
Trước thực trạng buôn bán, vận chuyển keo vô tội vạ, ngày 19-11, UBND huyện Khánh Sơn đã tổ chức cuộc họp với sự tham gia của các đồng chí Bí thư, Chủ tịch 8 xã, thị trấn bàn về việc quản lý, bảo vệ rừng trồng trên địa bàn huyện. Tại cuộc họp này, thực trạng buôn bán, vận chuyển keo non đã được nói thẳng, nói thật - một sự thật quá phũ phàng mà hậu quả của nó là những người dân “một nắng hai sương” phải gánh chịu. Theo lời đồng chí Nguyễn Quốc Thịnh, Phó Chủ tịch UBND huyện: “Diện tích keo là rừng sản xuất, gần khu dân cư. Việc khai thác được tiến hành công khai, xe chở thẳng băng chứ không phải như khai thác gỗ lậu đâu mà bảo lén lút. Việc khai thác, ngay đến cả cán bộ huyện còn biết, người dân ai cũng thấy nhưng chỉ có cán bộ xã là không thấy (?)… Đã đến lúc chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật, có hay không cán bộ công chức, viên chức mua bán keo non?”. Tại cuộc họp này, đồng chí Nguyễn Quốc Thịnh đã thẳng thắn chỉ trích Hạt Kiểm lâm huyện, cán bộ xã đã không hoàn thành vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình dẫn đến tình trạng bán keo non không hề thuyên giảm mà còn có chiều hướng gia tăng. Giải trình về vấn đề này, ông Tô Quốc Hùng, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện cho rằng: “Tại đỉnh đèo là Trạm kiểm lâm chứ không phải là trạm kiểm soát lâm sản nên không có chức năng dừng xe để kiểm tra”. Cũng theo lời ông Hùng, trạm đỉnh đèo chỉ là nơi để anh em nghỉ ngơi chứ không phải là địa điểm trực. Bởi do biên chế ít nên hầu hết anh em đều phải bám địa bàn (?). Cần nói thêm rằng, khi triển khai Kế hoạch 167, UBND huyện Khánh Sơn đã giao nhiệm vụ cho Hạt Kiểm lâm, cụ thể là trạm đỉnh đèo phải kiểm tra toàn bộ giấy tờ liên quan đến việc khai thác, vận chuyển keo trên địa bàn huyện nhưng Hạt không hề có ý kiến phản hồi. Như vậy, giải trình của ông Tô Quốc Hùng, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm liệu có thuyết phục?
![]() |
| Vì khó khăn trong khâu vận chuyển, sau gần 1 tháng kể từ khi khai thác, số lượng keo của ông Cao Cù Lân ở xã Ba Cụm Nam mới được các doanh nghiệp thu mua. |
Cũng tại cuộc họp này, nhiều cán bộ xã, ngành có đề cập đến thực trạng chung ở địa phương mình quản lý. Họ thừa nhận việc chính quyền, đoàn thể cấp xã buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm trong khâu giám sát; trong đó có chuyện người thu mua nắm rõ danh sách các hộ có keo hơn cán bộ xã, thậm chí các đầu nậu đi mua keo non đến làm luôn thủ tục mua bán, cấp phép và lấy giấy phép vận chuyển. Tuy nhiên, khi hỏi diện tích keo ở địa phương mình quản lý có bao nhiêu, diện tích keo non đã được bán như thế nào, có bao nhiêu hộ đã bán keo thì hầu hết lãnh đạo các xã không nắm được; hoặc có biết một số cán bộ cấp xã, cấp huyện trực tiếp đi thu mua keo non của người dân nhưng vì lý do tế nhị nên không dám nói… Theo báo cáo của UBND huyện Khánh Sơn, thời gian qua, Phòng Nông nghiệp phối hợp với Kiểm lâm trên địa bàn tiến hành kiểm tra, lập biên bản đình chỉ khai thác và thu hồi sản phẩm đối với 7 trường hợp, trong đó xã Sơn Hiệp 5 vụ, Sơn Trung 2 vụ. Tuy nhiên, sau đó rừng vẫn bị khai thác, sản phẩm thu hồi vẫn bị đưa đi. Lý giải về vấn đề này, lãnh đạo các xã cho rằng không có phương tiện vận chuyển, khi có phương tiện lại không có nhân công (?)
TỔ PHÓNG VIÊN
|
Kỳ 3: Lâm tặc lộng hành


