Đồng bào dân tộc Raglai ở Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa có một nền văn hóa truyền thống độc đáo, nhiều giá trị, đặc biệt về âm nhạc và sử thi. Tuy nhiên, việc bảo tồn văn hóa Raglai đang gặp nhiều khó khăn, bởi lực lượng làm công tác bảo tồn thiếu, nhận thức của người dân cũng hạn chế.
KỲ 1: NHỮNG “BÁU VẬT” NHÂN VĂN SỐNG CUỐI CÙNG
![]() |
| Đời sống văn hóa tinh thần của người Raglai luôn gắn với tiếng mã la. |
Bên ché rượu cần, giọng Ama Cường đang đều đều bỗng đột ngột vút cao, rồi lại trầm hẳn, thì thầm như lời tổ tiên người Raglai vọng về… Cao hứng, ông còn vung tay như diễn tả cuộc chiến sinh tử của chàng Chi Maja ở đầu làng hay một khu rừng nào đó. Ama Cường không hát bài hát có sẵn, mà là kể lại những điều ông nghe thấy và hình dung ra, một câu chuyện thăm thẳm xưa cũ mà tươi rói như cuộc đời thật vậy!
Bỏ lại những ồn ào phố thị, chúng tôi hướng lên miền núi Khánh Sơn - về nguồn, về với văn hóa truyền thống của đồng bào Raglai. “Lần này, tôi dẫn anh đi nghe nghệ nhân hát Akha Jukar”, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian (VHDG) Mấu Quốc Tiến nói “chắc như đinh đóng cột”, khiến tôi rất háo hức. Người Raglai gọi sử thi là Akha Jukar (chuyện hát bằng văn vần) để phân biệt với Akha ter (chuyện kể bằng văn xuôi).
° ĐÊM NGHE SỬ THI
Mặt trời sắp khuất núi, chúng tôi có mặt ở nhà ông Cao Văn Nhịp (thôn Tà Lương, thị trấn Tô Hạp) dự lễ trưởng thành của Mấu Ngọc Vang - cháu ngoại ông Nhịp. Người Raglai không hạn định thời gian làm lễ này, cứ khi nào có điều kiện thì làm; vì thế, mới hơn 3 tuổi nhưng Mấu Ngọc Vang đã được gia đình làm lễ trưởng thành…
![]() |
| Dù e dè người lạ, nhưng thấy nghệ nhân Cao Thị Quang hát sử thi, các cháu bà vẫn lại gần để nghe. |
Khi thầy cúng đang làm lễ trong nhà, thì ngoài sân, thanh niên trai tráng trong thôn đã chơi mã la (chiêng bằng) quanh bếp lửa. Mã la rất quen thuộc với người Raglai. Họ được nghe tiếng mã la từ khi mới sinh ra, và đến khi chết cũng có tiếng mã la tiễn về với ông bà tổ tiên. Dưới ánh lửa hồng, không còn thấy bóng dáng của âu lo thường ngày trên gương mặt những thanh niên Raglai, chỉ có hứng khởi dâng lên theo thanh âm huyền diệu của cồng chiêng… Người nhà ông Nhịp thay nhau mời rượu các thành viên đội mã la để bày tỏ cảm kích vì họ đã đến góp vui. Cách mời rượu của đồng bào Raglai cũng thật trân trọng: 2 tay cầm bát, nâng lên tận miệng khách và chờ đến khi khách uống hết mới thôi. Có lẽ vì thế, đêm đó, chúng tôi đã không thể chối từ những chén rượu có vị chua, nồng, được làm từ bắp, chuối của người Raglai, để “say” hơn khi hòa mình vào không gian văn hóa huyền diệu đó.
Khuya. Đêm miền núi se se lạnh. Men rượu đã thấm. Một vài người Raglai hào hứng hát điệu Alâu, rồi Madieng Sigơn (điệu hát giao duyên của người Raglai)… Bất chợt, ông Mấu Văn Cường (Ama Cường), đang ngồi bên ché rượu cần, ra hiệu im lặng, rồi bắt đầu cất tiếng hát. “Ông ấy hát sử thi đấy”, Mấu Quốc Tiến nói nhỏ với tôi. Ama Cường hát Amã Chi Maja (Chàng Chi Maja)- chuyện một chàng trai Raglai tài giỏi xua đuổi thú dữ, giúp dân làng có cuộc sống yên lành. Khi giặc tràn tới buôn làng, chàng lại bày cho dân làng đánh giặc… Giọng Ama Cường đang đều đều, bỗng đột ngột vút lên cao, rồi lại trầm hẳn, thì thầm như lời tổ tiên người Raglai vọng về. Cao hứng, ông còn vung tay như diễn tả cuộc chiến sinh tử của nhân vật ở đầu làng hay một khu rừng nào đó. Dẫu không biết tiếng Raglai nhưng tôi vẫn ít nhiều đoán ra tâm lý, số phận nhân vật. Khi nhân vật rơi vào hoàn cảnh hiểm nghèo, giọng Ama Cường chùng hẳn. Khoảng lặng giữa câu chuyện khiến người nghe lo âu, hồi hộp đợi chờ. Không gian lặng im, chỉ còn tiếng lá rừng xào xạc, tiếng con mang tác trong rừng xa vọng lại càng làm không khí sử thi thêm huyền diệu, đặc quánh. Cho tới khi giọng Ama Cường cất lên, sôi nổi, người nghe mới thở phào nhẹ nhõm. Cứ thế, đêm sử thi trôi đi…
Tôi nhận ra điều lạ: các nghệ nhân hát sử thi luôn nhắm mắt. Đem điều đó hỏi Mấu Quốc Tiến, anh khẽ khàng giải thích: “Nghệ nhân hát Akha Jucar không phải là thuật lại một câu chuyện có sẵn hoặc thuộc lòng. Ama Cường không hề và cũng không cần thuộc lòng, bởi Chi Maja đã ở trong máu của ông…”. Khi mọi người ngồi vây quanh, Ama Cường chỉ cần nhắm mắt lại là cuộc đời của Chi Maja lại hiện lên sinh động trong ông, rất thực. Mỗi lần kể là mỗi lần ông sáng tạo, tùy thuộc cảm hứng, không lần nào giống lần nào. Đó là một câu chuyện vừa thăm thẳm cổ xưa, vừa tươi rói như vừa xảy ra hôm nay… Lối hát độc đáo, kỳ lạ ấy của người Raglai nói riêng và Tây Nguyên nói chung đã được truyền lại từ bao đời trước.
Gần sáng. Ama Cường dừng lời; mọi người chậm rãi đứng dậy ra về. Xa xa, gà rừng đã cất tiếng gáy… Trên đường về, Mấu Quốc Tiến cho biết thêm: “Ngày trước, người Raglai đã kể chuyện sử thi thì phải kể đến kỳ hết mới thôi. Một đêm chưa xong, thì đêm sau, đêm sau nữa… kể cho kỳ hết, nghe cho kỳ hết. Cũng như con người, nhân vật sử thi cũng phải đi hết cuộc đời mình. Sử thi không chỉ là nghệ thuật mà chính là cuộc đời…”. Nhưng nguyên tắc ấy nay đã phai nhạt và mất đi, cũng như nhiều nét văn hóa độc đáo khác của người Raglai.
° NHỮNG NGHỆ NHÂN CÒN LẠI
Hôm sau, nhà nghiên cứu văn hóa Mấu Quốc Tiến lại dẫn chúng tôi lên xã Sơn Bình và Thành Sơn - nơi có những nghệ nhân hát sử thi cuối cùng của đất Khánh Sơn: Cao Thị Quang, Cao Thị Thanh, Mấu Thị Diên… Gần 20 năm trước, các nhà nghiên cứu VHDG đã phát hiện ra không chỉ người Êđê, Mơnông, mà cả đồng bào Raglai cũng có sử thi. Các nhà nghiên cứu VHDG Nguyễn Thế Sang, Trần Vũ… đã cất công đi điền dã, sưu tầm sử thi Raglai. Ngày ấy, số nghệ nhân hát kể sử thi còn khoảng 10 người. Nổi tiếng nhất là bà mẹ nuôi ông Tro Đồng, từng kể sử thi suốt 7 đêm, Ông Mấu Dũng ở Sơn Trung (nay đã mất) cũng là người biết nhiều sử thi…
![]() |
| Nghệ nhân Cao Thị Thanh (bên trái) tham gia hát sử thi trong Ngày hội văn hóa các dân tộc Raglai. |
Khi chúng tôi đến, bà Quang vừa đi ăn cưới đứa cháu về, cổ đeo nhiều chuỗi hạt đầy màu sắc. Đã ngoài 60 tuổi nhưng bà vẫn khỏe, thỉnh thoảng còn đi rẫy. Nhắc đến chuyện hát sử thi, bà tỏ ra rất hào hứng. Trong ngôi nhà sàn của người Raglai, bà Quang như chìm vào những câu chuyện cổ xưa. Bà kể chuyện Amã Chilang (chàng Chi lang) - chàng trai Raglai anh hùng, có phép màu nhiệm, giúp dân đánh giặc. Những đứa cháu của bà, có vẻ e dè khi thấy khách lạ, nhưng lại tụ tập nghe ngay khi thấy bà hát… Chúng tôi đã thấy những tờ giấy khen, giải thưởng của những lần dự liên hoan nghệ thuật quần chúng của tỉnh, liên hoan nghệ nhân già làng của huyện… đã xỉn màu, dán trên tường. Bà Quang trò chuyện: Từ nhỏ, tôi đã nghe rất nhiều sử thi. Nghe riết rồi thuộc lúc nào không rõ. Ngoài hát sử thi, tôi còn biết thổi kèn bầu, sáo… Ngày trước, người già hay kể sử thi vào những ngày lễ, khi đi làm nương rẫy (vào vụ gieo trồng hay thu hoạch); những đêm ngồi nung nồi đất, người ta cũng thường kể cho nhau nghe… Trước đây, bà Quang thường được mời đi hát ở đám cưới, nhưng giờ không mấy ai mời nữa. Các con, cháu bà cũng không biết kể sử thi. “Đêm nào nằm ngủ, tôi cũng hát cho cháu nghe nhưng nó không thích. Không đứa nào chịu học hát cả…”, bà nói.
Trong số các nghệ nhân ở Khánh Sơn, bà Cao Thị Thanh không phải người thuộc nhiều sử thi nhất, nhưng lại được nhiều người biết đến, bởi bà chính là người kể sử thi Uđai-Ujà (sử thi có đề tài chiến tranh, như kiểu sử thi Xinh Nhã của người Êđê) để nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Sang và Mấu Quốc Tiến ghi lại và chuyển ngữ tiếng Việt. Khi chúng tôi hỏi: “Away (mẹ) còn nhớ Ama Sang không?” (cách gọi thân mật của người Raglai dành cho nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Sang), bà Thanh rơm rớm nước mắt: “Nhớ chứ! Ông ấy chết mấy năm rồi! Thương lắm!”. Rồi bà kể: “Hồi ấy, để ghi sử thi Uđai-Uja, Ama Sang phải đi xe đạp lên xã Thành Sơn và ở lại nhà tôi cả tuần. Tôi kể suốt mấy đêm liền”. Năm 2006, Ngày hội văn hóa dân tộc Raglai tổ chức ở TP. Nha Trang, bà Thanh cũng được mời kể một đoạn trong sử thi này… Bà Thanh bảo, ngày trước, vùng này có nhiều người biết hát kể, nhưng giờ mất gần hết rồi. Bà cũng đã cố gắng dạy con cháu, nhưng chúng không kiên trì nên không học được.
Xã Sơn Bình có nghệ nhân Mấu Thị Diên cũng rất nổi tiếng về hát sử thi. Đợt Viện Văn hóa dân gian về Khánh Sơn điền dã, bà Diên đã kể một số sử thi như: Amã Jarahĩt (dài 40 băng cassette), Amã Saia Juhia (50 băng), Amã Chơi Pu-òq (58 băng)… Tiếc là hôm tôi đến, bà đi vắng. Nhà nghiên cứu Mấu Quốc Tiến cho biết, từ nhỏ, anh đã nghe bà Diên hát sử thi. Thời đó, đêm đến, trẻ con trong làng thường theo người lớn đến nhà dài nghe hát sử thi, mỗi lần hát phải quá nửa đêm mới nghỉ. Hồi trước, bà Diên có một người chị rất giỏi sử thi, hát đêm ngày không nghỉ. Lúc đó, bà Diên rất ít hát; chỉ đến khi chị chết đi, bà mới hát nhiều… Nghệ thuật kể sử thi dường như khá bí ẩn: Có người biết đấy, nhưng không kể; khi những “đại thụ” mất đi, họ mới kế thừa. Phải chăng đó là mạch ngầm văn hóa luôn chảy trong đời sống cộng đồng dân miền núi.
Trở lại Khánh Sơn lần này, chúng tôi không còn được gặp nghệ nhân Tro Thị Ría (xã Ba Cụm Bắc), Bà vừa mất được hơn 1 tuần. Bà Ría là người thuộc rất nhiều sử thi và làn điệu dân ca Raglai. Mấu Quốc Tiến tâm sự: “Nghệ nhân Tro Thị Ría mất đi thật đáng tiếc. Bà còn có một số sử thi mà chúng tôi chưa kịp ghi lại, ngoài ra còn có rất nhiều bài dân ca cổ…”. Tôi hỏi các con của bà Ría có biết hát kể không, tất cả đều lắc đầu. Với họ, bà Ría mất đi chỉ là mất một người thân, chứ không phải là cộng đồng Raglai đã mất đi “báu vật nhân văn sống”. Cụ Bo Bo Diễn (xã Ba Cụm Bắc) hiện cũng yếu lắm rồi, không hát được nữa… Tôi chợt nghĩ, không biết vài năm nữa, trở lại Khánh Sơn, có còn được nghe các nghệ nhân hát Akha Jucar?
XUÂN THÀNH


